Tại sao Viettel phải làm chủ bằng được công nghệ 5G?

Với 3G, 4G Việt Nam đi sau thế giới, nhưng với 5G, chúng ta đã bắt nhịp, đồng hành với những quốc gia hàng đầu và làm chủ công nghệ này.

Trong thập niên 1990, nhờ sự mạnh dạn và chủ động với 2G, Việt Nam đã từng lọt top 20 thế giới. Nhưng khi chuyển sang công nghệ 3G/4G, vì sự đi sau về công nghệ và thiếu yếu tố cạnh tranh mới mà viễn thông Việt Nam đang xếp hạng thứ 115/193 về mật độ thuê bao di động băng rộng, theo xếp hạng của ITU năm 2017, tức là mức dưới trung bình của thế giới.

Đ/c Nguyễn Cương Hoàng – Phó TGĐ VHT chia sẻ: ” Năm 2014, khi Viettel bắt đầu làm 4G,chúng ta bắt đầu từ con số 0, trong tay chưa có gì, vì vậy Viettel phải tổ chức đi học tập, tìm hiểu kiến thức, đặc biệt từ các đối tác quốc tế lớn. Chúng ta đã sang Australia gặp đối tác để làm trạm thu phát sóng. Họ chuyển cho nhóm Viettel 1 báo giá, trong đó ghi rất rõ giá thiết bị đơn lẻ và giá khi sản xuất trên 1000 sản phẩm. Nhưng họ chỉ chuyển giao thiết kế cho Viettel, sau đó sẽ chuyển giao từng công đoạn. Nếu thỏa thuận thành công, thì bước tiếp theo sẽ chuyển giao bo mạch về Việt Nam, Viettel chỉ việc lắp đặt đo đạc. Tuy nhiên, thứ quan trọng nhất là cái thuật toán thì họ không chuyển giao. Thời điểm ấy, các lãnh đạo Viettel cũng thấy hấp dẫn vì 1 năm là có sản phẩm. Nhưng khi tính toán thì mua xong rồi mãi mãi Viettel phải phụ thuộc vào họ, khi nào cần nâng cấp lại phải bỏ tiền ra nâng cấp”. 

img 9748 1
Đ/c Nguyễn Cương Hoàng – Phó Tổng giám đốc VHT chia sẻ câu chuyện Viettel phải sở hữu công nghệ viễn thông 

Như vậy, vấn đề phụ thuộc vào đối tác nước ngoài chính là rào cản lớn nhất ngăn cản Viettel cạnh tranh được với các nước trên thế giới về công nghệ 4G. Tuy nhiên, đến với 5G, đứng trước nguy cơ bị các quốc gia khác trên thế giới bỏ xa, Chính phủ và các doanh nghiệp công nghệ – viễn thông đã vào cuộc nhanh chóng, xác định Việt Nam phải tự làm được  Việt Nam cũng đã sẵn sàng cho cuộc đua Mạng di động thế hệ thứ 5.

Để tạo thuận lợi cho việc phát triển mạng 5G, cũng như tạo môi trường cho các doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất công nghệ cao như Viettel có thể phát triển nhanh thì cần có những cơ chế, chính sách phù hợp. “Sở dĩ ngành viễn thông-CNTT có thể phát triển nhanh trong giai đoạn trước đây là do tư duy “cởi trói”, để cho phát triển trước rồi quản lý theo sau. Tư duy này cần tiếp tục thực hiện thì mới tạo được môi trường cho lĩnh vực công nghệ mới phát triển”, Đ/c Lê Đăng Dũng – Chủ tịch Tập đoàn chia sẻ. Chính tư duy cởi trói này đã giúp cho 5G Viettel nói riêng và Việt Nam nói chung có những phát triển vượt bậc trong thời gian ngắn. Đúng như khẳng định trước đó của các cấp lãnh đạo, Việt Nam làm chủ được công nghệ 5G, không đi sau, không chậm so với thế giới mà đã sánh ngang, đi cùng nhịp với các nhà phát triển công nghệ 5G lớn trên toàn cầu.

5g viettel

Thiết bị 5G do VHT nghiên cứu và làm chủ.

“Đến lúc làm 5G Viettel lại phải bỏ tiền ra mua một thiết kế mới để nâng cấp, những gì Viettel được làm chủ rất ít. Nên thời điểm đó, lãnh đạo Tập đoàn quyết tâm Viettel sẽ tự làm. Đó chính là lý do để cho đến bây giờ Viettel đã có nền tảng (có lab, có con người, có các pattern). Từ đó, giúp cho Viettel làm 5G nhanh đến như vậy. Chỉ có 1 năm, kể từ khi có thách thức từ Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, thách thức từ Tập đoàn, là VHT đã  có thiết bị demo. 1 năm sau thì chúng ta đã có sản phẩm thương mại. Còn nếu cứ đi chuyển giao công nghệ theo kiểu truyền thống thì đến bao giờ lại chuyển giao tiếp 5G và không thể làm được mạng lõi được nữa”, đ/c Nguyễn Cương Hoàng – Phó TGĐ VHT nhấn mạnh.

Năm 2020 có thể nói là một năm thành công của VHT về nghiên cứu, sản xuất thiết bị 5G. Tuy nhiên, để có thể hoàn toàn làm chủ về công nghệ, vẫn sẽ còn rất nhiều điều chúng ta phải làm. VHT đặt mục tiêu tháng 6-2021 sẽ thương mại hóa trạm phát sóng 5G Microcell, tháng 6-2022 phát triển trạm phát sóng 5G trên toàn mạng lưới. Trong năm 2021cũng sẽ cơ bản hoàn thành nghiên cứu cho sản phẩm Macrocell với vùng phủ sóng rộng hơn và số lượng ăng-ten lớn hơn để đến tháng 6-2022, sản phẩm Macrocell cũng sẽ sẵn sàng để đưa vào kinh doanh.