Từ văn hoá truyền thống đến văn hoá số

Chuyển đổi số không chỉ là sự chuyển đổi về công nghệ mà còn là sự chuyển đổi của tư duy.  Một doanh nghiệp sẽ chuyển đổi số thành công khi và chỉ khi toàn bộ đội ngũ nhân sự, bao gồm cả lãnh đạo và nhân viên vượt qua những “chiếc bẫy” trong tư duy truyền thống – những điều có thể làm chậm lại hoặc “trật bánh” các sáng kiến chuyển đổi số của doanh nghiệp.

van hoa so

Cindy Rose, CEO của Microsoft UK từng nhận định: “Việc tạo lập một nền văn hóa phù hợp với chuyển đổi số là vô cùng quan trọng”. Vậy như thế nào là một nền văn hoá phù hợp với chuyển đổi số?

Sự khác biệt giữa văn hoá truyền thống và văn hoá số

Hãy bắt đầu từ việc so sánh sự khác biệt giữa văn hóa doanh nghiệp truyền thống và văn hóa số. Theo nghiên cứu chuyên sâu từ PWC so sánh văn hoá doanh nghiệp ở các nhà bán lẻ theo mô hình truyền thống và các nhà bán lẻ trực tuyến, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các hành vi ở hai nhóm doanh nghiệp này có sự khác biệt rất rõ nét. Sự khác biệt cơ bản này tập trung vào nhóm 3 yếu tố: Khách hàng và Nhu cầu; Cơ cấu tổ chức; Thái độ và cách thức làm việc.

Có gì khác nhau giữa mô hình văn hóa truyền thống và văn hóa số?

Ở môi trường truyền thống, cách thức kinh doanh sẽ chú trọng đẩy sản phẩm ra thị trường, được định hướng bởi nhu cầu mua hàng và nguồn cung từ các nhà cung ứng. Ở môi trường số, doanh nghiệp sẽ chủ động thu thập ý tưởng từ thị trường. Mọi quyết định kinh doanh được dẫn dắt bởi các nhu cầu của khách hàng.

Mô hình tổ chức của các doanh nghiệp truyền thống có sự phân cấp thứ bậc rõ nét, các quyết định được đưa ra một cách thận trọng, chậm chạp hơn. Tổ chức được quản trị theo hướng chuẩn quy trình và các phân công nhiệm vụ cụ thể. Nhân viên có các mô tả công việc rõ ràng với một kỳ vọng từ tổ chức “Hãy làm những công việc này đi!”.

Trong khi đó, ở các doanh nghiệp số, tổ chức sẽ có xu hướng “phẳng hơn”. Việc ra quyết định được tiến hành rất nhanh chóng, linh hoạt. Tổ chức được quản trị với định hướng khuyến khích tạo ra các kết quả và sản phẩm. Nhân viên trong các doanh nghiệp số được trao quyền mạnh mẽ để đạt được những mục tiêu, làm những việc mà thậm chí không có trong các mô tả công việc của họ. Họ được thỏa sức sáng tạo, tìm tòi và áp dụng các phương pháp mới để nâng cao hiệu suất công việc và tiết kiệm thời gian.

Các doanh nghiệp truyền thống có xu hướng hiểu nhu cầu của những khách hàng trung thành và tìm cách thoả mãn họ. Các doanh nghiệp số thấu hiểu nhu cầu của các khách hàng số, làm thế nào để những xu hướng công nghệ mới nhất có thể giúp họ phục vụ khách hàng tốt hơn trong hiện tại và tương lai.

Doanh nghiệp truyền thống có khuynh hướng duy trì sự ổn định, học từ những bài học trong quá khứ và chấp nhận sự ràng buộc. Các doanh nghiệp số có khuynh hướng đổi mới, cải tiến, không chấp nhận sự ràng buộc. Với doanh nghiệp số, kinh nghiệm hay những thành tích của quá khứ không quan trọng bằng tiềm năng, tầm nhìn, sự tò mò, động lực truyền cảm hứng và đặc biệt là khả năng linh hoạt thích ứng khi đối diện với bất kỳ thay đổi nào.

Doanh nghiệp truyền thống làm việc theo các phòng ban rõ ràng trong khi doanh nghiệp số chú trọng hợp tác xuyên “team”, sẵn sàng tổ chức dự án với những thành viên từ bất kỳ bộ phận nào của tổ chức. Doanh nghiệp số không “mặn mà” với những lộ trình thăng tiến được vạch sẵn, nhân viên có thể thăng tiến rất nhanh không theo thang bậc. Trong khi doanh nghiệp truyền thống tập trung vào việc lập kế hoạch và tối ưu hoá nguồn lực, doanh nghiệp số lại nỗ lực để ra mắt nhanh các sáng kiến, đổi mới, thử nghiệm và học hỏi từ đó.

anh 2 bai 1 1
Bảng so sánh văn hóa truyền thống và văn hóa trong giai đoạn chuyển đổi số. (Nguồn: Strategy& – PWC)

Từ văn hoá số thế giới đến văn hoá số Viettel

Năm 2017, trong một khảo sát kết hợp với Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), Capgemini – nhà tư vấn chuyển đổi số hàng đầu thế giới đã công bố báo cáo “Thách thức Văn hoá số: Thu hẹp khoảng cách giữa nhân viên và lãnh đạo”. Báo cáo này đã chỉ rõ 7 đặc tính của văn hoá số, đó là: Lấy khách hàng làm trung tâm, Đổi mới, Quyết định dựa trên dữ liệu, Tư duy ưu tiên số, Linh hoạt, Văn hoá mở và Hợp tác.
anh 3 bai 1

07 thành tố của Văn hóa số theo định nghĩa của Capgemini

Lấy khách hàng làm trung tâm: Sự thấu hiểu khách hàng, dựa vào các giải pháp công nghệ để mở rộng cơ sở khách hàng, chuyển đổi trải nghiệm của khách hàng và cùng khách hàng tạo ra các sản phẩm mới.

Đổi mới: Cách thức doanh nghiệp khuyến khích các hành vi chấp nhận rủi ro, mạo hiểm, suy nghĩ phá cách và khuyến khích tạo ra các ý tưởng mới.

Quyết định dựa trên dữ liệu: Tư duy sử dụng dữ liệu và phân tích để đưa ra quyết định kinh doanh tốt hơn là đặc tính quan trọng của văn hoá phù hợp chuyển đổi số.

Tư duy Ưu tiên số: Cách doanh nghiệp ưu tiên công nghệ để giải quyết mọi thách thức, vấn đề của mình.

Linh hoạt: Tốc độ và khả năng thích ứng của tổ chức trước những yêu cầu thay đổi.

Văn hóa mở: Tư duy mở rộng quan hệ đối tác với các mạng lưới bên ngoài như nhà cung cấp bên thứ ba, công ty khởi nghiệp hoặc chính khách hàng.

Hợp tác: Khả năng tạo ra các nhóm liên bộ phận, chức năng chéo để tối ưu hóa năng lực của doanh nghiệp.

Ngày 1/6/2020, Viettel đã cam kết “Tuyên bố Văn hoá số” và chào đón sự ra đời của ICADO – văn hoá số Viettel. ICADO là viết tắt của 5 thành tố: Đổi mới, Hướng tới khách hàng, Linh hoạt, Quyết định dựa trên dữ liệu và ưu tiên số, Văn hoá mở và hợp tác.

Với mục tiêu tạo ra một môi trường số trong toàn Viettel, thúc đẩy đạt tới mục tiêu “Tiên phong kiến tạo xã hội số” và “chuyển đổi Viettel thành nhà cung cấp dịch vụ số”, văn hoá số ICADO không những là sự kế thừa từ nền tảng tư tưởng triết lý của Viettel mà còn hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

Viettel đã có nền tảng tư tưởng truyền thống tương thích với nền tảng của văn hoá số. Tuy nhiên, để văn hoá số được phổ biến, thực hành rộng rãi, thống nhất trong toàn tập đoàn, một tuyên bố chính thức và thống nhất trong cách hiểu, cách hành động mới chỉ là một điểm khởi đầu thuận lợi. Còn rất nhiều việc phải làm để ICADO thực sự là tư duy mới của người Viettel. Để thực hành ICADO, người Viettel cần phải đặt văn hoá số trong chiến lược chuyển đổi số của đơn vị, nhận thức đúng và đầy đủ về mỗi thành tố, từ đó tạo nên một tư duy mới giúp các đột phá chuyển đổi số trở nên dễ dàng hơn.